CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

PGS.TS. Trần Đình Toán

I.Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:

1.Khái niệm:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh lý về hô hấp mạn tính có đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự rào trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường ở phổi với các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc lá đóng vai trò hàng đầu. COPD có thể dự phòng và điều trị được.

Theo GOLD 2011 (Global Intiative of Obstructive Lung Disease)- Sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thì:

– Là một bệnh thông thường và phòng ngừa được.

– Giới hạn luồng khí dai dẳng và thường tiến triển.

– Do phản ứng viêm tăng mạnh trong đường dẫn khí và phổi đối với hạt và khí độc.

– Các cơn kịch phát và bệnh cùng mắc, góp phần làm cho bệnh nặng thêm ở mỗi bệnh nhân.

– Viêm phế quản mạn, khí phế thũng và hen xuyễn.

– Dấu hiệu: khó thở, ho và khạc đờm kinh niên + cơn kịch phát.

– Phế dung kế được cho là cần thiết để chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và các giai đoạn của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính : FEV1/FVC < 70% sau kiểm tra giãn phế quản.

– Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh có thể phòng và điều trị được, đặc trưng bởi sự hạn chế lưu thông khí đường thở tiến triển từ từ và có lien quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi- phế quản đối với các khí hay phân tử độc hại, đồng thời có hồi phục không hoàn toàn. Những trường hợp không có rối loạn thông khí tắc nghẽn không xếp vào Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

2.Tình hình mắc bệnh:

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), COPD xếp thứ tư trong các nguyên nhân tử vong và là nguyên nhân gây tàn phế đứng thứ 12. Dự đoán tới năm 2020 bệnh là một trong ba nguyên nhân tử vong và đứng thứ 5 trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu.

Hiện nay, tỷ lệ mắc COPD cao nhất ở các nước đã và đang thịnh hành hút thuốc và ngược lại tỷ lệ thấp ở các nước ít hút thuốc.

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) trong dân cư một số tỉnh thành phố phía Bắc thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả hai giới là 5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 6,7% và nữ giới là 3,3%. Theo nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự (200(), tỷ lệ mắc COPD là 4,2% ở đối tượng trên 40 tuổi.
Giai đoạn sớm thường không đặc hiệu do đó dễ bị bỏ sót hoặc chẩn đoán muộn

Bệnh nhân có các triệu chứng chính:

Ho, khạc đờm mạn tính: ho có đờm thường diễn ra quanh năm, ho có đờm vào buổi sáng. Ho nặng lên vào mùa đông, đờm nhày, số lượng đờm tùy thuộc từng bệnh nhân, nếu COPD giai đoạn cấp thì đờm mủ, đặc.

Khó thở: khởi đầu xuất hiện khi gắng sức, sau dai dẳng, tiến triển nặng dần theo thời gian, kèm theo đau ngực.

Tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, khói bụi, hóa chất nghề nghiệp.

Ở bệnh nhân COPD nặng, biểu hiện tình trạng khó thở, tím tái, gày.

Khám phổi: rì rào phế nang giảm ở những bệnh nhân có khí phế thũng nặng, rales ngáy, rales rít, lồng ngực hình thùng ở giai đoạn có giãn phế nang.

Khám tim: nhịp tim nhanh, T2 mạnh.

Thăm dò chức năng hô hấp là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh và đánh giá các giai đoạn của COPD: Rối loạn thông khí tắc nghẽn không phục hồi hoàn toàn sau nghiệm pháp giãn phế quản: FEV1<80%, chỉ số Tiffeneau FEV1/VC <70%; FEV1 không tăng hoặc dưới <15% sau test giãn phế quản. X Quang: trường phổi sáng, cơ hoành hạ thấp, có bóng khí, giúp chẩn đoán mức độ giãn phế quản còn giúp loại trừ nguyên nhân khác. Điện tim: P cao, nhọn; dày thất P, tăng áp động mạch phổi và tâm phế mạn. Cần nghĩ đến chuẩn đoán COPD ở những bệnh nhân > 40 tuổi có các triệu chứng: ho, khạc đờm và hoặc có tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh.

Rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn với thuốc giãn phế quản: biểu hiện FEV1 giảm, chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70% là tiêu chuẩn vàng của COPD. Không nhất thiết phải có các dấu hiệu lâm sàng nhất là trong thời kỳ đầu của bệnh.

3.Tiến triển, biến chứng:

Nếu không quản lý và điều trị hiệu quả, bệnh nhân mắc COPD có thể phát triển thêm các biến chứng như suy tim, loãng xương, trầm cảm và rối loạn thần kinh

Ngoài ra bệnh nhân COPD có thể mắc thêm tràn dịch màng phổi, ung thư phổi .

Đặc biệt những đối tượng này nguy cơ mắc suy dinh dưỡng là rất cao , theo tạp chí Parenteral and Enteral Nutrition (2014) có tới 1% bệnh nhân COPD bị suy dinh dưỡng.

4.Vai trò của dinh dưỡng trong dự phòng và điều trị bệnh:

Chế độ dinh dưỡng cần phải được chú ý để đảm bảo nâng cao thể trạng và góp phần cải thiện tình trạng của bệnh, nếu nuôi ăn tốt bệnh của bệnh nhân không bị nặng lên, bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhõm, đờm ít đi , dịch tiết giảm đi, đỡ khó thở hơn, hạn chế các đợt cấp tính và bội nhiễm.

II.Chế độ ăn:

Chế độ ăn cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cần đảm bảo các tiêu chí sau đây:

– Năng lượng: 30-35 kcal/kg thể trọng/ngày

– Protein: 1,2-1,7 g/kg thể trọng/ngày

– Lipid: 30-40% tổng năng lượng. Trong đó 1/3 acid béo no, 2/3 acid béo không no một nối đôi và nhiều nối đôi

– Chia nhỏ bữa ăn 5-6 bữa/ngày

– Hạn chế muối 2-3g/ngày nếu có suy tim.

– Lượng dịch đưa vào cần tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý kèm theo.

Lưu ý:
– Không ăn nhiều dầu mỡ, nhất là mỡ động vật,phủ tạng động vật,về mùa đông nên dùng các thức ăn có tính ôn, ấm.

– Không hút thuốc lá, thuốc lào, hạn chế bia rượu.

– Tăng cường các loại thực phẩm có tính chất bổ phế, tiêu đờm, long đờm, như các loại rau gia vị có tinh dầu: kinh giới, tía tô…, rau củ như bí xanh, tránh các thực phẩm làm tăng tiết dịch.

– Ăn nhiều thực phẩm có nhiều đạm như thịt nạc, cá nạc, lòng trắng trứng, sữa tách bơ…
Tăng cường ăn các loại rau củ bổ sung vitamin, nhất là vitamin C, A để tăng sức đề kháng của cơ thể.

III.Thực đơn mẫu:

1.Thực đơn 1:
Năng lượng = 1500- 1600 kcal
Protein= 75g
Lipid = 33g
Glucid = 225g

– Sáng: bún (200g), giá đỗ xanh (60g), thịt lợn nạc (30g), dầu ăn (5g)

– Phụ sáng: 1 cốc sữa chua

– Trưa: cơm 1 miệng bát (160g), thịt lợn nạc (30g), tôm đồng (40g), giò lụa (20g), cải bắp (150g), dầu ăn (5g)

– Phụ chiều: 1 quả táo (140g)

– Tối: cơm 1 miệng bát (160g), thịt lợn nạc (30g), đậu phụ (65g), trứng cút (30g), su su (100g), dầu thực vật (5g)

– Phụ tối: 1 cốc sữa (52g)

2.Thực đơn 2:
Năng lượng = 1800 – 1900 kcal
Protein= 90-100g
Lipid = 40g
Glucid = 260-270g

– Sáng: bún (200g), giá đỗ xanh (60g), thịt lợn nạc (30g), dầu ăn (5g)

– Phụ sáng: sữa đậu nành(150ml)

– Trưa: cơm 2 lưng bát (200g), thịt lợn nạc (50g), tôm đồng (40g), giò lụa (30g), cải xanh (150g), dầu ăn (5g)

– Phụ chiều: bưởi (140g)

– Tối: cơm 2 lưng bát (200g), thịt lợn nạc (50g), đậu phụ (65g), trứng gà (50g), su su (150g), dầu thực vật (5g)

– Phụ tối: 1 cốc sữa (52g)

3. Thực đơn 3:
Năng lượng = 2100 – 2200 kcal
Protein= 110g
Lipid = 47g
Glucid = 310g

– Sáng: bánh phở (180g), giá đỗ xanh (60g), thịt gà ta (50g), dầu ăn (5g)

– Phụ sáng: 1 quả cam (150g)

– Trưa: cơm 2 lưng bát (200g), lạc rang (16g), cá trắm cỏ (40g), giò lụa (30g), rau muống (150g), sườn lợn (120g), dầu ăn (5g)

– Phụ chiều:1 quả ổi (140g)

– Tối: cơm 2 lưng bát (200g), thịt bò loại 1 (30g), cần tây (30g), đậu phụ (65g), tôm biển (120g), rau dền đỏ (150g), dầu thực vật (5g)

– Phụ tối: 1 cốc sữa (52g)

IV. Tài liệu tham khảo:

1. Ngô Quý Châu và cộng sự (2012. “Bệnh học nội khoa tập 1”. NXB Đại học Y Hà Nội, tr. 42-58.

2. GOLD (20110, Global strategy for diagnosis management and prevention of COPD, NHLBI/WHP workshop report.

3. Lê Thị Hương và cộng sự (2016) “Dinh dưỡng lâm sàng – tiết chế”. NXB Đại học Y Hà Nội, tr 216-220

4. Bùi Xuân Tám (1999), “Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”, Bệnh hô hấp, NXB Y học Hà Nội, tr.601-49.

5. Phạm Ngọc Khái và cộng sự (2016) “Dinh dưỡng lâm sàng”. NXB Y học, tr. 232-234.